Chi tiết tin

A+ | A | A-

Sơ lược Đà Nẵng: Đất và Người

Người đăng: Admin Điện Bàn Ngày đăng: 11:16 | 06/01/2026 Lượt xem: 571

Chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp là một định hướng lớn, mang tầm chiến lược của Đảng và Nhà nước ta, được triển khai đồng bộ, khoa học, thận trọng và kiên quyết.

Trên cơ sở đó, ngày 01/7/2025, thành phố Đà Nẵng chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trên cơ sở hợp nhất toàn bộ tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trước đây. Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng luôn gắn bó mật thiết với tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, là không gian hội tụ, giao thoa và kết tinh nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, con người. Nhằm giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân thành phố có cái nhìn hệ thống, khái quát về vùng đất và con người Đà Nẵng trong dòng chảy lịch sử, Bản tin Sinh hoạt chi bộ trân trọng giới thiệu bài viết “Sơ lược Đà Nẵng: Đất và Người”.

1. Đất… - tiến trình hình thành và phát triển

Trong hơn 720 năm (1306 - 2026), vùng đất Đà Nẵng ngày nay đã nhiều lần thay đổi về tên gọi, địa giới hành chính, trải qua các giai đoạn tách, nhập, điều chỉnh lớn, phản ánh sinh động lịch sử mở cõi và phát triển của dân tộc. Từ một vùng biên viễn phía Nam Đại Việt, Đà Nẵng đã vươn lên trở thành đô thị trung tâm, giữ vai trò động lực phát triển của khu vực miền Trung và cả nước.

Từ năm 1306 đến năm 1802

Năm 1306, dưới triều vua Trần Anh Tông, vua Chiêm Thành Chế Mân dâng hai châu Ô và Rí (Lý) làm sính lễ cưới Công chúa Huyền Trân. Từ đó, lãnh thổ Đại Việt mở rộng đến bờ Bắc sông Thu Bồn, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình Nam tiến của dân tộc.

Năm 1307, triều Trần đổi châu Ô thành châu Thuận (vùng đất từ bờ Nam sông Hiếu tỉnh Quảng Trị đến ranh giới thành phố Huế ngày nay); vùng đất từ Nam đèo Hải Vân đến Bắc sông Thu Bồn thuộc phủ Triệu Phong, châu Hóa  (vùng đất từ thành phố Huế đến bờ Bắc sông Thu Bồn), với nhiều làng xã hình thành sớm như Hải Châu, Thạch Thang, An Hải, Hóa Sơn, Thanh Chiêm… Đây là nền tảng ban đầu cho quá trình xây dựng và phát triển lâu dài của vùng đất này.  Đến thời nhà Hồ (1400 - 1407), vùng đất Chiêm Động và Cỗ Lũy được tổ chức thành lộ Thăng Hoa. Đến thời thuộc Minh (1407 - 1427), hợp thành phủ Thăng Hoa, gồm 4 châu, 11 huyện.

Cảnh giao thương tại dinh trấn Thanh Chiêm hồi thế kỷ 17 được mô tả trong bức Giao chỉ quốc mậu dịch hải đồ - Ảnh: Tư liệu

Bước ngoặt quan trọng diễn ra vào năm 1471, khi vua Lê Thánh Tông khai sáng đạo Thừa tuyên Quảng Nam, thừa tuyên thứ 13 của quốc gia Đại Việt. Từ đây, danh xưng “Quảng Nam” chính thức xuất hiện, vùng đất Đà Nẵng tiếp tục giữ vị trí chiến lược trong cấu trúc hành chính quốc gia. Địa giới của thừa tuyên Quảng Nam 1471, rồi đến xứ Quảng Nam 1490 hay trấn Quảng Nam 1509 như sau: “Từ nam sông Thu Bồn đến núi Cù Mông (bao gồm phần đất của huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam đến huyện Tuy Viễn của tỉnh Bình Định)”. “Vùng đất từ bờ bắc sông Thu Bồn ra đến núi Hải Vân lúc bấy giờ là huyện Điện Bàn, thuộc phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa”.

Năm 1604, chúa Nguyễn tách huyện Điện Bàn khỏi phủ Triệu Phong, nâng lên thành phủ Điện Bàn, sáp nhập vào dinh Quảng Nam; địa giới dinh Quảng Nam kéo dài từ Nam đèo Hải Vân đến Bắc đèo Cù Mông. Đến năm 1611, dinh Quảng Nam đạt quy mô rộng lớn nhất, trải dài từ Hải Vân đến núi Thạch Bi (Phú Yên).

Từ năm 1802 đến cuối thế kỷ XIX

Năm 1802, triều Nguyễn tiến hành cải tổ hành chính. Đến năm 1832, vua Minh Mạng đổi trấn Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam, với địa giới từ Nam đèo Hải Vân đến Dốc Sỏi. Từ giữa thế kỷ XIX (khoảng năm 1835), tên gọi Đà Nẵng, thuộc phủ Điện Bàn, dần được sử dụng chính thức trong các văn bản hành chính, thay cho tên gọi Cửa Hàn. Từ đây, Đà Nẵng dần trở thành danh xưng hành chính, địa lý ổn định, gắn với vai trò cảng biển chiến lược của quốc gia.

Một cổng của Thành tỉnh Quảng Nam

Từ 1889 đến trước Cách mạng tháng Tám 1945

Năm 1889, thực dân Pháp tách Đà Nẵng khỏi tỉnh Quảng Nam, đặt tên là Tourane, trực thuộc Toàn quyền Đông Dương. Tuy nhiên, trong dân gian và các văn bản tiếng Việt, tên Đà Nẵng vẫn được duy trì bền bỉ, thể hiện sức sống của một danh xưng đã ăn sâu trong tâm thức cộng đồng. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, tỉnh Quảng Nam có 4 phủ và 4 huyện; Đà Nẵng giữ vai trò trung tâm đô thị, quân sự và thương mại.

Từ năm 1945 đến năm 1975

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, tỉnh Quảng Nam từng mang tên Trần Cao Vân, thành phố Đà Nẵng mang tên Thái Phiên; đến cuối năm 1945, các địa danh được khôi phục theo tên gọi truyền thống. Trong kháng chiến chống Mỹ, Quảng Nam - Đà Nẵng là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng. Năm 1962, chính quyền cách mạng chia Quảng Nam thành tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà, trong đó thành phố Đà Nẵng là trung tâm của tỉnh Quảng Đà.

Từ sau năm 1975 đến ngày 30/6/2025

Sau ngày thống nhất đất nước, chấp hành Nghị quyết số 245-NQ/TW ngày 20/9/1975 của Bộ Chính trị về việc bỏ khu, hợp nhất tỉnh, ngày 04/10/1975, Ủy ban nhân dân cách mạng Khu Trung trung Bộ ra Quyết định số 119-QĐ về việc hợp nhất hai tỉnh Quảng Đà và Quảng Nam thành một đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương với tên gọi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, tỉnh lỵ đóng tại thành phố Đà Nẵng.

Ngày 6/11/1996, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa IX, kỳ họp thứ 10, quyết định phê chuẩn việc tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành hai đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương là tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng chính thúc đi vào hoạt động từ ngày 01/01/1997. Và lúc này: (1) Tỉnh Quảng Nam: Có diện tích tự nhiên: 10.406,34 km²; dân số: 1.364.599 người; tỉnh lỵ đóng tại thị xã Tam Kỳ. Có 14 đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh (12 huyện, 2 thị xã) và 217 đơn  vị  hành  chính  trực  thuộc  huyện,  thị (12  thị  trấn,  12 phường, 193 xã). (2) Thành phố Đà Nẵng: Có diện tích tự nhiên: 942,46 km²; dân số: 663.115 người; 7 đơn vị hành chính trực thuộc thành phố (5 quận, 1 huyện trong đất liền và 1 huyện hải đảo Hoàng Sa), với 33 phường, 14 xã.

Từ ngày 01/7/2025 - Mốc son lịch sử mới

Ngày 12/6/2025, Quốc hội khóa XV thông qua Nghị quyết số 202/2025/QH15, sắp xếp toàn bộ tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng thành thành phố Đà Nẵng trực thuộc Trung ương, có hiệu lực từ 01/7/2025; với diện tích 11.859,59 km²; dân số 3.065.628 người; gồm 94 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: 70 xã, 23 phường và đặc khu Hoàng Sa. Đảng bộ thành phố có 97 đảng bộ trực thuộc, gồm: 93 đảng bộ phường, xã; 04 đảng bộ cấp trên trực tiếp tổ chức cơ sở đảng (các Đảng bộ: Các cơ quan Đảng thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố, Quân sự thành phố, Công an thành phố) và chi bộ đặc khu Hoàng Sa trực thuộc Đảng ủy Sở Nội vụ thuộc Đảng bộ Ủy ban nhân dân thành phố. Tính đến ngày 31/10/2025, Đảng bộ thành phố có 140.354 đảng viên, 831 tổ chức cơ sở đảng (gồm 310 đảng bộ cơ sở và 521 chi bộ cơ sở), 3.559 chi bộ trực thuộc đảng ủy xã, phường, 50 đảng bộ bộ phận và 2.003 chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở. Đây là bước đi mang tính lịch sử, mở ra không gian phát triển mới, kế thừa và phát huy truyền thống của vùng đất Đà Nẵng mới trong dòng chảy phát triển mới của đất nước.

2. …và Người - bản lĩnh, nhân văn và khát vọng vươn lên

Con người Đà Nẵng hôm nay mang trong mình cốt cách xứ Quảng xưa, được hun đúc từ lịch sử mở cõi về phương Nam, từ sự giao thoa bền bỉ của nhiều lớp cư dân và không gian văn hóa biển, núi, đồng bằng. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, thiên nhiên khắc nghiệt và chiến tranh khốc liệt, con người nơi đây đã hình thành nên một bản lĩnh riêng: mạnh mẽ, can trường, giàu nghị lực, luôn biết lăn xả với thực tiễn, kiên cường trước thử thách, không cam chịu khuất phục trước khó khăn.

Người Đà Nẵng nổi bật với tính cách thẳng thắn, bộc trực, trọng lý lẽ, ít quanh co. Họ dám nói, dám tranh luận để đi đến điều đúng; “hay cãi” nhưng cãi để làm sáng tỏ vấn đề, để đổi mới và tiến bộ. Trong sâu thẳm, đó là sự thật thà, chất phác, nghĩa tình; yêu, ghét rạch ròi; thủy chung với quê hương, với cách mạng và lẽ phải. Chính sự rõ ràng trong suy nghĩ và hành xử ấy đã tạo nên nét riêng của con người Đà Nẵng: giản dị mà không đơn giản, cứng cỏi mà giàu nhân ái.

Được hình thành trên vùng đất mở ra biển lớn, nơi giao thương sớm với bên ngoài, con người Đà Nẵng sớm có tư duy cởi mở, tinh thần hướng ngoại, dễ tiếp thu cái mới. Ham học hỏi, năng động, sáng tạo và thích ứng nhanh với những biến động của thời cuộc là những phẩm chất nổi bật, giúp Đà Nẵng không ngừng vươn lên trong tiến trình hiện đại hóa và hội nhập. Truyền thống hiếu học, trọng nhân tài, ý thức cộng đồng và tinh thần tương trợ đã tạo nên một vùng “đất học”, nơi sản sinh nhiều chí sĩ, trí thức, nhà văn hóa, nhà yêu nước, đóng góp quan trọng cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Trên hết, con người Đà Nẵng là sự hòa quyện hài hòa giữa bản lĩnh và nhân văn. Bản lĩnh thể hiện trong lao động cần cù, trong chiến đấu kiên cường, trong dấn thân và hội nhập; còn nhân văn được bộc lộ qua cách ứng xử nghĩa tình, tinh thần đoàn kết, sẻ chia và khát vọng vươn lên vì cộng đồng. Chính sức mạnh nội sinh ấy đã làm nên diện mạo Đà Nẵng hôm nay, một đô thị năng động, hiện đại nhưng vẫn giàu chiều sâu văn hóa và bền vững về giá trị truyền thống. Từ mảnh đất này đã xuất hiện nhiều con người ưu tú, góp phần làm rạng rỡ quê hương và đất nước, đúng như lời tự nhắc của cụ Nguyễn Công Trứ: “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông”.

Trong tiến trình lịch sử, từ buổi đầu mở đất đến thời phong kiến, vùng đất Đà Nẵng đã ghi dấu tên tuổi của nhiều bậc hiền tài, trung nghĩa và yêu nước tiêu biểu như: Phạm Bá Tông, Lê Cảnh, Trương Công Hy, Phạm Phú Thứ, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Nguyễn Duy Hiệu, Hoàng Diệu, Phan Bá Phiến… Họ là những người sớm tiếp thu tư tưởng canh tân, khơi dậy tinh thần yêu nước, đặt nền móng cho các phong trào đấu tranh vì độc lập, tự do và tiến bộ xã hội.

Đình làng Thanh Chiêm

Bước sang thời hiện đại, Đà Nẵng tiếp tục là quê hương của nhiều nhà lãnh đạo, nhà cách mạng, trí thức, nhà khoa học, nhà giáo, nhà văn hóa và anh hùng liệt sĩ tiêu biểu như: Võ Chí Công, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lý, Hồ Nghinh, Lê Độ…; cùng nhiều học giả, nhà nghiên cứu, nhà khoa học có uy tín như Hoàng Tụy, Lê Trí Viễn, Huỳnh Lý, Lê Đình Kỵ, Hoàng Phê, Diệp Quang Ban… đóng góp quan trọng cho tri thức và giáo dục nước nhà. Đặc biệt, Đà Nẵng - Quảng Nam còn là cái nôi của nhiều nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ lớn, làm phong phú đời sống tinh thần dân tộc và khẳng định bản sắc văn hóa miền Trung như: Phan Khôi, Nam Trân, Hằng Phương, Hoàng Châu Ký, Võ Quảng, Nguyễn Văn Xuân, Vũ Hạnh, Thu Bồn, Phan Huỳnh Điểu, Nguyễn Nhật Ánh… Những tác phẩm của họ đã vượt ra khỏi không gian địa phương, để lại dấu ấn sâu đậm trong dòng chảy văn học, nghệ thuật Việt Nam hiện đại.

Sự kết tinh giữa “Đất” và “Người”, từ truyền thống đến hiện đại, đã tạo nên bản sắc Đà Nẵng hôm nay: năng động, hiện đại, khát vọng vươn lên không ngừng nhưng giàu truyền thống; hội nhập mạnh mẽ nhưng bền bỉ với cội nguồn. Đó là nền tảng tinh thần vững chắc, là sức mạnh nội sinh quý báu. Việc hợp nhất Quảng Nam và Đà Nẵng là cơ hội lịch sử, đúng thời điểm, đúng không gian phát triển, phù hợp với quy luật lịch sử, văn hóa, mở ra vận hội mới để thành phố Đà Nẵng tiếp tục vươn lên phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

Tác giả: Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Đà Nẵng

Các tin cũ hơn:

icon

Bản đồ hành chính

icon

Thăm dò ý kiến

Bạn cảm thấy website của chúng tôi như thế nào ?
icon

Thống kê truy cập

Tổng số lượt truy cập

0000178323

Hôm nay: 194
Hôm qua: 4497
Tháng này: 9327
Tháng trước: 13871